Công ty Lê Bình chuyên máy phun sơnDịch vụ chuyển nhà trọn gói

Sponsors

Quy định pháp luật về bồi thường chi phí đào tạo khi xin thôi việc

Gửi bởi: Nguyễn Đức Uy

Tôi tham gia một chương trình đào tạo của công ty và ký cam kết làm việc cho công ty 1 năm sau khi kết thúc chương trình này, nếu không sẽ phải bồi thường chi phí đào tạo. Xin hỏi nếu tôi nộp đơn xin thôi việc khi chưa hoàn tất thời gian làm việc đã cam kết (có báo trước 30 hoặc 45 ngày) thì có phải bồi thường chi phí đào tạo không?

Trả lời bởi: Công ty TNHH Luật Đại Việt

Tại khoản 3 Điều 41 Bộ luật Lao động quy định: “Trong trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải bồi thường chi phí đào tạo (nếu có) theo quy định của Chính phủ”.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 18 Nghị định số 139/2006/NĐ-CP quy định cụ thể như sau:

“Trường hợp doanh nghiệp tuyển ngư­ời vào học nghề để sau đó làm việc tại doanh nghiệp, nếu người học nghề không làm việc theo cam kết thì phải bồi thường chi phí dạy nghề. Mức bồi thường do hai bên thoả thuận, xác định trong hợp đồng học nghề.

Chi phí dạy nghề gồm các khoản chi phí hợp lý cho người dạy, tài liệu, vật liệu thực hành, chi phí khấu hao nhà xưởng, máy móc thiết bị và các chi phí khác đã chi cho người học.”

Điều 37 Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung quy định về các trường hợp được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Vì bạn không nói rõ bạn làm việc tại Công ty theo loại hợp đồng nào? Xác định thời hạn hay không xác định thời hạn vì mỗi loại hợp đồng khi đơn phương chấm dứt phải tuân theo những quy định riêng. Cụ thể đối với hợp đồng không xác định bạn chỉ cần tuân thủ thời gian báo trước là 45 ngày theo quy định tại khoản 3 Điều 37 Bộ luật Lao động.

Nếu bạn làm việc theo hợp đồng có xác định thời hạn thì ngoài việc chấp hành về thời gian báo trước theo quy định bạn còn phải có lý do đơn phương chấm dứt hợp đồng, cụ thể Điều 37 quy định:

“1- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm các điều kiện làm việc đã thoả thuận trong hợp đồng;

b) Không được trả công đầy đủ hoặc trả công không đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng;

c) Bị ngược đãi; bị cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở các cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Người lao động nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của thầy thuốc;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị ba tháng liền đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2- Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g: ít nhất ba ngày;

b) Đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ: ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng; ít nhất ba ngày nếu là hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng”.

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp

Ads

* Tư vấn pháp luật miễn phí

* Thành lập công ty

* Thay đổi Đăng ký kinh doanh

* Điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư

Government

Cổng thông tin điện tử Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
  • Cổng thông tin điện tử Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
  • Sponsors
    Tin pháp luật